Home / Tôi Chia Sẻ / Câu Chuyện Nhạc Cụ / Giới Thiệu Đàn Tranh Việt Nam – Đàn thập lục

Giới Thiệu Đàn Tranh Việt Nam – Đàn thập lục

Đàn tranh có nguồn gốc từ đàn cổ tranh Trung Quốc (guzheng). Sau khi được truyền sang Việt Nam vào khoảng thế kỷ 16 , đàn tranh được đổi từ dây tơ sang dây kim loại (sắt, đồng, thép). Qua nhiều thế kỉ, người Việt đã khiến đàn tranh trở thành nhạc cụ mang đậm nét bản sắc dân tộc với những kĩ thuật ngón điêu luyện do chúng ta nghĩ ra.

Đàn tranh việt nam còn được gọi là  đàn  thập lục mười sáu dây. Hình dạng của nó giống như một ống tre đã được thái lát theo chiều dọc trong một nửa. Đàn tranh đã phần lớn được nhìn thấy biểu diễn bởi các nhạc sĩ nữ trong trang phục truyền thống Việt (áo dài).

nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng (Nguồn: hcmcons.vn)

 

 

Trục đàn : Mỗi sợi dây đàn có một trục đàn . Trục đàn dùng để chỉnh dây đàn . Muốn chỉnh dây đàn thì phải vặn trục đàn . Vặn trục đàn theo chiều kim đồng hồ khi cần xuống thấp . Vặn ngược chiều kim đồng hồ khi cần lên cao .

Khoá lên dây đàn : Dùng khoá để vặn trục đàn . Khi nào vặn mà trục cứng quá thì tay mặt vặn theo chiều kim đồng hồ, tay trái nhấc trục đàn lên để kéo ra khỏi thân đàn . Sau đó có thể lau chùi trục đàn rồi gắn trở lại .

Nếu trục đàn quá cứng không thể vặn nổi, trong trường hợp này, bạn nên bôi sáp (nến, đèn cầy, xà bông Marseille) vào lỗ gắn trục đàn rồi xoay trục đàn khoảng 10 vòng . Sau đó lấy khăn lau sạch lỗ đàn và gắn dây trở lại .

Nếu trục đàn quá trơn, trục đàn chạy theo dây đàn, bạn lấy phấn viết bảng hay bột nhựa thông (loại gắn trên cây đàn Nhị hay đờn Cò) xát vào trục đàn và cũng xoay xoay trục đàn khoảng 10 vòng . Sau đó gắn dây trở lại .

Con Nhạn : Con nhạn có nhiệm vụ chuyển âm từ dây xuống mặt đàn để tạo ra âm thanh . Vì thế con nhạn lúc nào cũng phải đứng vững trên mặt đàn . Con nhạn đàn không dính chặt vào mặt đàn để có thể xê dịch được . Khi cần chỉnh dây chút xíu, ta không cần phải vặn trục đàn mà chỉ cần xê dịch con nhạn một chút xíu . Xê dịch con nhạn về phía tay mặt sẽ làm dây đàn cao hơn, dịch qua bên tay trái sẽ làm dây đàn xuống thấp hơn .

Cầu đàn : Dây đàn được bắc ngang qua cầu đàn . Khẩy đàn ở gần cầu đàn .

Các nhạc sĩ truyền thống miền Nam Việt Nam chỉ dùng hai ngón là ngón cái và ngón trỏ . Các nhạc sĩ miền Bắc và miền Trung thường dùng ba ngón là ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa . Khi gẩy ngón cái thì gẩy từ phía mình ngồi rồi gẩy ra xa . Khi gẩy bằng ngón trỏ hay ngón giữa thì để ngón trên dây rồi kéo về phía mình . Gẩy đàn là để móng đàn lên dây rồi bật dây chứ không dùng sức mạnh của ngón tay để đập vào dây .

Trước khi tra móng vào tay, nên thấm ướt đầu ngón tay để móng dính chặt vô tay mà không rơi ra trong lúc mình đang đàn .

Khi gẩy xong một cung đàn thì ngón tay rơi vào dây kế tiếp và dừng tay ở vị trí đó, không cần phải xê dịch ngón tay đi chỗ khác .

Dây đàn : Dây đàn Tranh ngày nay bằng kim loại . Ở Việt Nam có các loại dây 40, 35, 30, 25 và 20 . Ở Pháp có thể hỏi mua dây ở các tiệm bán phụ tùng cho đàn Piano . Dây hỏi mua là dây đàn Clavecin . Ở Anh Quốc hay ở Mỹ, đàn Clavecin được gọi là đàn Harpsichord .
( THEO Phạm văn Vĩnh )

Hộp đàn: Hình hộp dài, chiều dài khoảng 110cm, đầu đàn hẹp khoảng 13cm, cuối đàn rộng khoảng 20cm.
Mặt đàn: Mặt đàn Tranh vồng lên tượng trưng cho vòm trời làm bằng gỗ xốp, nhẹ . Loại gỗ thường làm mặt Đàn Tranh là gỗ Ngô Đồng.
Thành đàn: Làm bằng gỗ trắc, mun hoặc cẩm lai hoặc gỗ gụ
Ðáy đàn: Dưới đáy đàn ở đầu rộng, phía tay phải người đánh đàn có một lỗ thoát âm hình bán nguyệt để lắp dây, ở giữa đàn có 1 lỗ hình chữ nhật để cầm đàn khi di chuyển và ở đầu hẹp có một lỗ tròn nhỏ để treo đàn.
Cầu đàn: Ở đầu rộng, một cầu đàn bằng gỗ, hơi nhô lên và uốn cong theo mặt đàn có các lỗ nhỏ xếp hàng ngang có nạm hoặc cẩn kim loại để xỏ dây.
Ngựa đàn: Trên mặt đàn có nhạn (ngựa đàn) tương ứng với số dây, các con nhạn để đỡ dây đàn và có thể di chuyển được để điều chỉnh độ cao thấp của dây. Để có độ bền và âm thanh tốt, các con nhạn  thường làm bằng gỗ trắc hoặc cẩm lai. Đầu các con nhạn ở vị trí đỡ các dây đàn thường được gắn thêm xương hoặc đồng.
Trục đàn: Ở đầu hẹp đàn Tranh có các trục đàn để lên dây, trục đàn đặt trên mặt đàn còn để giữ một đầu dây xếp hàng chéo do độ ngắn dài của dây, tạo âm thanh cao thấp, trục đàn tốt thường được làm bằng gỗ Trắc, gôc Cẩm Lai hoặc gỗ gụ.
Dây đàn: Dây đàn bằng thép hoặc inox với các cỡ dây khác nhau để phù hợp với tầm âm của cây đàn.
Móng gảy: Ðàn Tranh đàn bằng móng gảy thường được làm bằng đồi mồi, Inox.

( THEO TATHAM.VN )

Về âm thanh, âm đàn tranh vô cùng trong trẻo, ít thích hợp với những bản nhạc mang tính trầm hùng. Tầm âm đàn tranh rộng 3 quãng 8, từ Đô lên Đô3

Đàn tranh thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho ngâm thơ, hát, tham gia trong các dàn nhạc tài tử, phường bát âm, dàn Nhã Nhạc và các dàn nhạc dân tộc tổng hợp.

tham khảo theo (nuxatula.wordpress.com )

Hướng tới giữa ban âm thanh có 16 cây cầu làm bằng gỗ hoặc xương nghiêng với đồng có thể di chuyển để thay đổi sức căng của các dây, do đó tạo các âm thanh khác nhau. Vào cuối đàn của hộp là mười sáu chốt để điều chỉnh. Các chuỗi là kim loại và điều chỉnh với quy mô ngũ âm.

Đàn tranh  ngồi thẳng và gảy sử dụng tất cả các ngón tay. Người chơi thường sẽ đeo móng đàn làm bằng nhựa hoặc vỏ rùa trên ngón tay của mình để tạo điều kiện dễ dàng khi  gãy. Những âm thanh vang lên thông qua các hộp gỗ rỗng dưới dây. Âm thanh có thể được thay đổi thông qua giác hơi, nhấn hoặc vuốt ve dây thay vì chỉ đơn giản là gãy

 

Đàn tranh VN bắt nguồn từ thành phố cố đô Huế, nơi phụ nữ một lần chơi nó cho hoàng gia, và các nhạc cụ vẫn được coi là một biểu tượng của thành phố. Dan tranh là bình thường chơi một mình, nhưng nó cũng có thể được sử dụng để đi cùng với một ca sĩ hay là một phần của một dàn nhạc.

Cảm ơn chị Lê Giang đã đóng góp cơ bản về đàn tranh để Nhạc Đây Rồi Chấm Com hoàn thiện bài viết

Comments

comments

Check Also

Giới thiệu cây đàn tranh Trung Quốc

Giới thiệu cây đàn tranh Trung Quốc Bước đầu tìm học đàn tranh nên đọc …

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *